Ở quán cà phê của thời trẻ lạc lối

Dưới đây là một trích đoạn văn chương trong cuốn “Ở quán cà phê của thời trẻ lạc lối” của Patrick Modiano sắp được xuất bản trong thời gian tới. Hcoffee đăng lại bản dịch trên thế giới cà phê. Mời bạn thưởng thức một chút văn chương lãng mạn Pháp nhé!

Từng có hôm một tay nhiếp ảnh gia bước vào quán Le Condé. Dáng dấp gã không có gì  chỏi lên so với khách trong quán. Cùng độ tuổi, cùng lối ăn vận hờ hững gã mang một cái áo vest quá dài so với thân hình, quần vải thô và đôi giày nhà binh to tướng. Gã chụp rất nhiều ảnh những người năng lui tới quán Le Condé. Cả Gã cũng trở thành khách quen ở đây và, với những người khác, cứ như thể Gã đang chụp những bức ảnh gia đình vậy.

Rất lâu sau này, chúng xuất hiện trong một quyển sách ảnh chụp Paris, chỉ ghi chú bằng tên riêng hoặc biệt hiệu của khách. Và nàng xuất hiện trên nhiều bức ảnh. Nàng nhạy sáng hơn những người khác, như người ta hay nói trong điện ảnh. Trong số mọi người, nàng được để ý đến trước hết. Phía dưới trang sách, ở các ghi chú ảnh, nàng được định danh dưới cái tên “Louki”. “Từ trái qua phải: Zacharias, Louki, Tarzan, Jean-Michel, Fred và Ali Cherif…” “Hàng đầu, ngồi trước quầy bar: Louki. Phía sau cô, Annet, Don Carlos, Mireille, Adamov và bác sĩ Vala.” Nàng ngồi rất thẳng, trong khi những người khác mang đủ các dáng điệu buông thả, chẳng hạn như anh chàng mang tên Fred ngủ áp đầu vào thanh gá tường bọc moleskin và, trông rất rõ, anh ta đã không cạo râu từ nhiều ngày. Phải nói cho rõ: nàng được đặt cho cái tên Louki kể từ khi bắt đầu hay tới Le Condé. Tôi có ở đó, vào cái buổi tối nàng bước vào quán quãng nửa đêm, khi ấy chỉ còn lại Tarzan, Fred, Zacharias và Mireille, ngồi cùng bàn với nhau. Tarzan là người hét lên: “Này, Louki kìa…”. Thoạt tiên nàng có vẻ hoảng hốt, rồi nàng mỉm cười. Zacharias đứng dậy và, bằng một cái giọng trịnh trọng vờ vĩnh: “Đêm nay, tôi đặt tên cho cô. Kể từ nay, tên cô là Louki.” Giờ giấc trôi đi, khi mọi người trong số họ đều đã gọi nàng là Louki, tôi nghĩ nàng cảm thấy nhẹ nhõm vì được mang cái tên mới này. Đúng, nhẹ nhõm.

Quả vậy, càng suy nghĩ, tôi càng thấy rõ lại ấn tượng ban đầu của mình: nàng tới ẩn náu ở đây, tại quán Le Condé này, như thể muốn chạy trốn điều Gã đó, đào thoát khỏi một mối nguy. Ýnghĩ ấy đã vụt đến với tôi lúc thấy nàng một mình, tận trong góc phòng, ở cái nơi chẳng một ai có thể để ý đến nàng này. Và khi hòa vào với những người khác, nàng cũng không thu hút sự chú .. Nàng im lặng và e dè, chỉ để tâm lắng nghe. Và thậm chí tôi còn từng tự nhủ rằng để được an toàn hơn nàng thích các nhóm ầm ĩ, “những kẻ lắm mồm”, nếu không như vậy thì hẳn nàng đã không gần như lúc nào cũng ngồi ở bàn của Zacharias, bàn của Jean-Michel, bàn của Fred, bàn của Tarzan và bàn của La Houpa… Với họ, nàng tan lẫn vào trong sự bài trí, nàng chỉ còn lại là một nhân vật vặt vãnh vô danh tính, thuộc những người được người ta nói đến trong các ghi chú ảnh: “Không rõ tên” hoặc, đơn giản hơn, “X”. Phải, hồi đầu, tại Le Condé, tôi không bao giờ thấy nàng ngồi riêng với một ai. Và rồi, chẳng có gì bất tiện khi một trong những kẻ lắm mồm bỗng đâu lớn tiếng gọi nàng là Louki bởi đó không phải tên thật của nàng.

Thế nhưng, nếu quan sát nàng thật kỹ, người ta sẽ thấy một số chi tiết khiến nàng khác những người còn lại. Cách ăn mặc được nàng chăm chút theo một lối không hề quen thuộc với khách khứa của Le Condé. Một tối, ở bàn của Tarzan, Ali Cherif và La Houpa, nàng châm một điếu thuốc và tôi sửng sốt trước vẻ thanh tú của hai bàn tay nàng. Và nhất là, những móng tay của nàng óng ánh. Chúng phủ một lớp sơn móng không màu. Chi tiết này rất dễ có vẻ quá mức nhỏ nhặt. Thế nên ta hãy nghiêm trang hơn. Để làm được như vậy thì cần miêu tả các khách quen của quán Le Condé cụ thể một chút. Họ ở độ tuổi từ mười chin đến hai mươi lăm, trừ một số người như Babilée, Adamov hay bác sĩ Vala, những người xấp xỉ tuổi năm mươi, nhưng người ta quên bẵng mất tuổi của họ.

Babilée, Adamov và bác sĩ Vala chung thủy với tuổi trẻ của họ, chung thủy với cái mà ta có thể gọi bằng cái tên đẹp thật du dương và cũ kỹ, “bohème”. Tôi tìm từ “bohème” trong từ điển: Người sống một cuộc đời lưu đãng, không phép tắc và cũng không đoái hoài tới ngày mai. Đó là một định nghĩa áp dụng thật chính xác được cho những người năng lui tới Le Condé. Một số người như Tarzan, Jean-Michel và Fred làm như từ nhỏ họ từng nhiều lần gặp chuyện lôi thôi với cảnh sát và La Houpa đã trốn khỏi nhà trừng giới Bon-Pasteur năm mười sáu tuổi. Nhưng ta đang ở Tả ngạn sông Seine và phần lớn những người kia sống dưới bóng văn chương nghệ thuật. Cả tôi, tôi cũng đang đi học. Tôi không dám nói cho họ điều đó và cũng không thực sự hòa mình vào nhóm họ.

Tôi cảm thấy rất rõ rằng nàng khác những người còn lại. Nàng từ đâu đến trước khi được đặt cái tên ấy? Thường thì, khách quen của quán Le Condé cầm một quyển sách trên tay, quyển sách đó họ hờ hững đặt lên mặt bàn, bìa sách ố vết rượu vang. Les Chants de Maldoror, Les Illuminations, Les Barricades mystérieuses1. Nhưng hồi đầu, chẳng bao giờ nàng cầm theo gì. Và rồi, hẳn nàng muốn làm như những người khác và thế là một hôm, ở Le Condé, tôi bắt gặp nàng một mình, đang đọc sách. Kể từ đó, quyển sách không rời khỏi nàng nữa. Nàng đặt nó sao cho thật dễ thấy trên mặt bàn khi ngồi cùng Adamov và những người khác, như thể quyển sách ấy là cuốn hộ chiếu hay thẻ cư trú hợp thức hóa cho sự hiện diện của nàng bên cạnh họ. Nhưng chẳng ai để ý đến nó, cả Adamov, Babilée, Tarzan lẫn La Houpa. Đó là một quyển sách khổ bỏ túi, bìa đã cũ bẩn, thuộc loại sách cũ người ta vẫn mua trên các ke sông và có nhan đề in cỡ lớn màu đỏ: Những chân trời đã mất. Thời ấy, nó không gợi cho tôi điều gì. Lẽ ra tôi phải hỏi nàng về chủ đề cuốn sách, nhưng tôi lại ngu ngốc mà tự nhủ rằng Những chân trời đã mất với nàng chỉ là một thứ phụ liệu và nàng làm ra vẻ đang đọc nó để hòa nhịp được với đám khách ở Le Condé. Đám khách này, một người qua đường từ bên ngoài liếc nhìn vào – thậm chí gí trán vào cửa kính một lúc mà nhìn – hẳn sẽ coi chỉ đơn giản là một đám khách sinh viên. Nhưng người đó sẽ mau chóng đổi ý khi thấy lượng rượu được nốc hết ở bàn của Tarzan, Mireille, Fred và La Houpa. Tại các quán cà phê êm ả của khu Latinh, hẳn chẳng bao giờ người ta uống như vậy. Dĩ nhiên, vào những giờ hoang vu của buổi chiều, quán Le Condé có thể gây ảo giác. Nhưng trời càng trở sang tối, nó càng lúc càng trở thành điểm hẹn của thứ mà một triết gia tình cảm chủ nghĩa từng gọi là “tuổi trẻ lạc lối”. Tại sao lại là quán cà phê này chứ không phải một quán khác? Là do bởi bà chủ, một bà Chadly, người như thể không ngạc nhiên vì bất kỳ điều gì và thậm chí còn thể hiện chút khoan dung với khách của mình.

Nhiều năm sau này, khi mà các phố trong khu chỉ còn giăng giăng nối hàng những ô kính cửa hiệu bán đồ xa xỉ và một tiệm đồ da đã chiếm chỗ của quán Le Condé, tôi gặp bà Chadly bên kia bờ sông Seine, trên phố dốc Blanche. Bà không nhận ra tôi ngay. Chúng tôi bước đi cạnh nhau một lúc mà tán chuyện về Le Condé. Chồng bà, một người Algérie, đã mua lại cơ ngơi hồi sau chiến tranh. Bà còn nhớ tên tất cả chúng tôi. Bà thường xuyên tự hỏi chúng tôi ra sao rồi, nhưng bà không tự tạo ảo tưởng cho mình. Bà đã biết, ngay từ đầu, rằng chúng tôi rồi sẽ vấp phải những gì rất tệ. Những con chó lạc, bà bảo tôi thế. Và vào lúc chia tay nhau trước hiệu bán thuốc trên quảng trường Blanche, bà dõi thẳng vào mắt tôi mà nói: “Tôi ấy mà, người tôi thích nhất là Louki.”

[ ...] Tôi thích dạo bộ ngược Champs-Élysées vào một buổi tối mùa xuân. Giờ đây đại lộ ấy không còn thực sự tồn tại, nhưng, đêm đến, nó vẫn còn tạo ảo giác. Có lẽ trên Champs-Élysées anh sẽ nghe tiếng em gọi tên anh… Cái ngày em bán cái áo khoác lông thú và viên ngọc lục bảo tròn trịa, anh còn chừng hai nghìn franc từ số tiền Béraud-Bedoin trả cho anh. Ta thật giàu. Tương lai thuộc về ta. Tối ấy, em đã lòng lành đến với anh ở khu Étoile. Ta tới quán ăn ở góc phố François Đệ Nhất giao với phố Marbeuf. Người ta đã bày những cái bàn ra ngoài vỉa hè. Trời vẫn còn sáng. Không có người qua lại và ta nghe thầm thì những giọng nói và tiếng ồn những bước chân.

Quãng mười giờ, khi chúng ta đi xuôi Champs-Élysées, anh tự hỏi không biết có bao giờ trời chịu tối không và liệu đó lại chẳng phải là một đêm trắng như ở Nga và các nước miền Bắc. Ta bước đi vô định, ta có cả đêm ở trước mặt. Vẫn còn lại những ráng mặt trời trên các vòm tường phố Rivoli. Đây là đầu hè, ta sẽ sớm đi khỏi. Đi đâu? Ta còn chưa biết được. Có lẽ là Majorque hoặc Mexico. Có lẽ là London hay Rome. Những nơi chốn không còn chút quan trọng nào nữa, chúng lẫn lộn vào hết với nhau. Đích duy nhất chuyến đi của chúng ta, đó là đi VÀO TÂM MÙA HÈ, cái nơi thời gian dừng lại và nơi những cây kim đồng hồ lúc nào cũng chỉ cùng một giờ: giữa trưa.

Ở Palais-Royal, bóng tối đã buông. Chúng tôi dừng lại một lúc ở hiên quán Ruc-Univers trước khi tiếp tục bước đi. Một con chó đi theo chúng tôi dọc phố Rivoli cho tới Saint-Paul. Rồi nó vào trong nhà thờ. Chúng tôi không cảm thấy mệt chút nào, và Louki bảo tôi rằng cô có thể bước đi thế này cả đêm. Chúng tôi đi qua một vùng trung tính ngay trước khi đến Arsenal, vài phố vắng hoe đến mức người ta phải tự hỏi liệu có người sống ở đó hay không. Ở tầng trên một tòa nhà, chúng tôi thấy có hai cửa sổ mở rộng sáng đèn. Chúng tôi ngồi xuống một cái ghế băng, đối diện đó, và chúng tôi không sao tự ngăn mình nhìn những cửa sổ ấy. Ngọn đèn có chụp màu đỏ, ở tận trong góc, tỏa ra thứ ánh sáng câm lặng đó. Ta nhìn thấy một tấm gương khung mạ vàng treo trên bức tường bên trái. Những bức tường khác thì trống trơn. Tôi rình một bóng hình hẳn sẽ lướt qua đằng sau cửa sổ, nhưng không, không có ai cả, có vẻ như vậy, trong cái căn phòng mà ta không biết được liệu nó là phòng khách hay một phòng ngủ.

“Chắc ta phải bấm chuông cửa thôi, Louki nói với tôi. Em chắc có ai đó đang đợi chúng ta.”

Cái ghế băng nằm giữa một dải đất tạo thành từ chỗ giao của hai phố. Nhiều năm sau này, tôi ngồi trên một chiếc taxi đi dọc bến Arsenal, về phía các ke song. Tôi bảo tài xế dừng lại. Tôi muốn tìm lại cái ghế băng và tòa nhà. Tôi hy vọng hai cửa sổ tầng trên vẫn còn sáng, sau chừng ấy thời gian. Nhưng thiếu điều thì tôi đã lạc lối trên mấy phố nhỏ đâm vào các bức tường của doanh trại Célestins. Đêm hôm ấy, tôi đã bảo cô rằng không việc gì phải bấm chuông cửa. Sẽ không có ai. Và rồi chúng tôi đang sung sướng ở đây, trên ghế băng. Thậm chí tôi còn nghe tiếng một vòi nước chảy ở đâu đó.

“Anh chắc không? Louki hỏi. Em chẳng nghe thấy gì cả…”

Chính hai chúng tôi đang sống trong căn hộ trước mặt kia. Chúng tôi đã quên tắt đèn. Và chúng tôi đã để mất chìa khóa. Con chó lúc nãy hẳn đang đợi chúng tôi. Nó ngủ trong phòng ngủ của chúng tôi và sẽ ở đó chờ chúng tôi cho đến tận cùng thời gian.

Sau đó, chúng tôi bước đi về phía Bắc và, để không bị trôi giạt quá nhiều, chúng tôi tự ấn định một cái đích: quảng trường République, nhưng chúng tôi không chắc là đang đi theo đúng hướng. Quan trọng gì đâu, chúng tôi vẫn luôn luôn có thể lấy tàu điện ngầm quay trở lại phố Argentine nếu có bị lạc. Louki nói với tôi rằng cô từng thường xuyên ở khu phố này, thời cô còn nhỏ. Người bạn trai của mẹ cô, Guy Lavigne, có một cái gara ở quanh đây. Đúng, về phía quảng trường République. Chúng tôi dừng lại trước mỗi gara, nhưng không lần nào là đúng gara ấy. Cô không còn tìm lại được đường nữa. Lần tới khi tới Auteuil thăm cái ông Guy Lavigne đó, cô sẽ phải hỏi địa chỉ chính xác gara cũ của ông trước khi cả ông ta nữa, ông ta cũng biến mất.

Nhìn qua thì vẻ như chẳng có gì nhưng việc ấy lại rất quan trọng. Nếu không, rốt cuộc ta sẽ không còn lại nổi một điểm nào để định vị trong đời nữa. Cô nhớ rằng mẹ cô và Guy Lavigne từng dẫn cô đến hội chợ Trône sau Phục sinh, ngày thứ Bảy. Họ đã đi bộ tới đó theo một đại lộ lớn bất tận rất giống đại lộ mà chúng tôi đang đi đây. Hẳn chính là nó. Nhưng thế thì chúng tôi lại rời xa khỏi quảng trường République. Những thứ Bảy ấy cô cùng mẹ và Guy Lavigne đi tới tận rìa rừng Vincennes.

Đã gần nửa đêm, và hẳn sẽ thật kỳ cục nếu hai chúng tôi lại đứng trước hàng rào sắt của vườn bách thú. Hẳn chúng tôi có thể nhìn thấy những con voi trong bóng tối nhờ nhợ. Nhưng đó, trước chúng tôi, mở ra một quãng trống sáng sủa ngay chính giữa là một bức tượng. Quảng trường République. Càng lại gần hơn, tiếng nhạc càng nghe rõ hơn. Một vũ hội chăng? Tôi hỏi Louki hôm nay có phải là ngày 14 tháng 7 không? Cô không biết gì hơn tôi. Từ lâu nay, với chúng tôi những ngày và những đêm đã lẫn lộn hết vào với nhau. Tiếng nhạc vẳng ra từ một quán cà phê, ngay gần góc đại lộ giao với phố Grand-Prieuré.Vài người khách ngồi ở ngoài hiên.

Đã quá muộn để lấy chuyến tàu điện ngầm cuối cùng. Ngay sau quán cà phê là một khách sạn để cửa mở. Một bóng đèn trần chiếu sáng một cầu thang rất đuỗn với các bậc bằng gỗ màu đen. Thậm chí người gác đêm còn không cả hỏi tên chúng tôi. Anh ta chỉ đơn giản là cho chúng tôi biết số một phòng trên tầng. “Kể từ giờ, có lẽ chúng ta sẽ sống được ở đây”, tôi nói với Louki. Một cái giường đơn nhưng không quá chật với chúng tôi. Không ri đô lẫn chớp cửa sổ. Chúng tôi để cửa sổ mở hé bởi trời nóng. Bên dưới, tiếng nhạc đã tắt, và chúng tôi nghe thấy những tràng cười. Cô thì thầm vào tai tôi:

“Anh nói đúng. Hẳn ta phải ở lại đây mãi.”

Tôi nghĩ chúng tôi đang ở xa Paris, tại một cảng nhỏ của Địa Trung Hải. Sáng nào vào cùng giờ chúng tôi cũng đi theo con đường qua các bãi biển. Tôi còn nhớ được địa chỉ của khách sạn: 2, phố Grand-Prieuré. Khách sạn Hivernia. Trong suốt tất cả những năm u tối tiếp theo, thỉnh thoảng người ta hỏi địa chỉ hoặc số điện thoại của tôi, tôi đều nói: “Anh chỉ cần viết thư cho tôi gửi đến khách sạn Hivernia, 2, phố Grand- Prieuré. Người ta sẽ chuyển tới cho tôi.” Tôi sẽ phải đi tìm tất cả những bức thư ấy, chúng đợi tôi từ lâu lắm rồi và vẫn chưa được hồi đáp. Em có lý, lẽ ra chúng ta nên ở lại đó mãi…

Tác giả Patrick Modiano

Dịch Trần Bạch Lan từ nguyên bản tiếng Pháp: Dans le café de la jeunesse perdue